Thái cực quyền

Thái cực quyền

852
0
CHIA SẺ

Luyện Thái cực

Khi tuổi già không còn là khái niệm mơ hồ mà đã trở thành viễn tưởng không xa lắm thì ta chợt giật mình thấy sức khoẻ quí vô cùng, nhất là nếu chẳng may đã bắt đầu hay đau ốm lặt vặt hoặc chân tay dở chứng đau nhức. Mỗi người, tuỳ theo sở thích hay triết lý sống, bèn tìm cho mình một cách kéo dài tuổi thọ và giữ gìn sức khoẻ. Người thì ăn chay, người thì siêng năng thể thao, người khác thì thay thế điếu thuốc lá bằng những buổi thiền. Tôi thì trăm sự nhờ vào ông thầy dạy thái cực quyền (Tai Chi). Mỗi tuần tập hai lần, tương đối chăm chỉ, riết rồi cũng thấy “ghiền”. Không biết khổ công tập tành mấy năm nay có tránh cho tôi bệnh hoạn tới đâu nhưng điều chắc chắn là giữ được dẻo dai và vận động cơ thể toàn diện cả khí lẫn lực. Riêng đối với những người thở kém, tập Tai Chi thích hợp vì mỗi người làm theo nhịp độ của mình, chủ yếu tập trung vào nội lực. Một điều cũng rất dễ chịu là trong Tai Chi không có tranh đua, thi cử hoặc thắng bại tuy là môn võ. Có lẽ vì thế mà nhiều người thích tập để quên đi trong chốc lát những bon chen của một xã hội luôn đòi hỏi năng suất.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Nguồn gốc:
Về nguồn gốc Thái cực quyền, người ta có những luận điểm suy đoán khác nhau. Theo nhiều tài liệu vào cuối thế kỷ 14, một người nông dân tên Trần Bốc (Chen Bu hoặc Chen Pu) tới cư ngụ tại một làng nhỏ thuộc huyện Ôn (Wenxian), tỉnh Hà Nam, phía Bắc sông Hoàng Hà (Huanghe). Ông là người tỉnh Sơn Tây (Shanxi), và là tổ của gia đình họ Trần. Làng mà ông tới cư ngụ về sau được gọi là Trần Gia Câu (Chenjia Gou). Theo một số người trong gia tộc họ Trần, môn võ (Thái cực quyền) khởi nguyên từ tổ phụ Trần Bốc.

Tuy nhiên nhiều học giả đã bác bỏ điều này và thừa nhận chính Thái cực quyền được ra đời cách đây hơn 300 năm do sự sáng tạo của một người họ Trần ở Trần Gia Câu, huyện Ôn, tỉnh Hà Nam, tên là Trần Vương Đình (Chen Wangting, 1600-1680) mới là khởi nguyên của Thái cực quyền dòng họ Trần.

Trần Vương Đình sống vào cuối đời Minh đầu nhà Thanh, là người đất Ôn, tỉnh Hà Nam, đời thứ 9 của dòng họ Trần ở Trần Gia Câu. Trong thời nhà Minh, Trần Vương Đình từng giữ chức vụ tuần phủ, án sát Sơn Đông, Trực Lệ, tỉnh Hà Bắc và là Liêu Đông kiêm chức giám quân, chống nhau với giặc Thanh hơn 4 năm. Quyển Trần thị Gia phổ (Chenshi Jia Pu) có ghi: Ông sinh vào cuối triều đại nhà Minh đầu triều đại nhà Thanh, danh tiếng tại tỉnh Sơn Đông, đánh đuổi quân cướp, và là người đầu tiên đem vào gia đình ông môn quyền, đao và thương, ông thường sử dụng cây đại đao. Năm 1644 khi nhà Minh mất, Trần Vương Đình lui về ẩn cư. Từ đây ông tập trung nghiên cứu, tổng hợp các môn võ thuật đương thời, lấy 29 thức trong số 32 thức của Quyền kinh của Thích Kế Quang, để cải tạo thành một bài riêng truyền lại cho con cháu. Thái cực quyền được Trần Vương Đình truyền lại cho con cháu trong họ, đời đời luyện tập và không ngừng cải tiến tinh luyện. Cuốn Trần thị gia phổ cũng cho biết Trần Vương Đình tuy đem vào dòng họ 3 môn quyền, đao, thương, nhưng các đời về sau chỉ còn truyền lại quyền mà thôi.

Ở Việt Nam, cùng với sự phổ biến của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung trong đó có nhắc tới việc Trương Tam Phong là người đầu tiên nghĩ ra Thái cực quyền, nhiều người tin rằng ông tổ của môn võ này chính là Trương Tam Phong. Tuy nhiên, với sự phổ biến của cuốn Thái cực quyền phổ do Vương Tông Nhạc đời Càn Long trứ tác, và ảnh hưởng của cuốn sách này đến các hệ phái Thái cực quyền về sau, các học giả ngày càng nghiêng về khả năng Vương Tông Nhạc mới là người khai sáng Thái cực quyền.

Vua Càn Long đời nhà Thanh từng nói “Thái Cực AN THIÊN HẠ, Bát Cực ĐỊNH CÀN KHÔN” Điều này cho thấy TaiChi vừa là môn võ vừa là môn dưỡng sinh nên rất cần thiết cho mọi người, mọi nhà.

Các dòng phái chính
Ngũ đại danh gia
Theo tài liệu Thái cực quyền thường thức vấn đáp của tác giả Trương Văn Nguyên thì Thái cưc quyền có bảy nhà như sau:
1. Thái cực quyền Trần Gia Lão giá bắt đầu từ Trần Trường Hưng ở Trần Gia Câu, Hà Nam.
2. Thái cực quyền Trần gia Tân giá bắt đầu từ Trần Hữu Bản cũng ở Trần Gia Câu, Hà Nam.
3. Thái cực quyền Trần Gia Tiểu giá bắt đầu từ Trần Thanh Bình ở làng Triệu Bảo (gần Trần Gia Câu), còn gọi là Triệu Bảo giá Thái cực quyền.
4. Thái cực quyền Dương gia bắt đầu từ Dương Lộ Thiền truyền cho hai con trai là Dương Ban Hầu và Dương Kiện Hầu, Dương Kiện Hầu lại truyền cho con là Dương Trừng Phủ. Hệ phái Dương gia Thái cực quyền hiện có bài giản hóa 24 thức thường dùng cho các lớp dưỡng sinh.
5. Thái cực quyền Vũ gia bắt đầu từ Vũ Vũ Tương người huyện Vĩnh Niên, phủ Quảng Bình, tỉnh Trực Lệ, đến Ôn Châu Hà Nam, theo học với Trần Thanh Bình.
6. Thái cực quyền Ngô gia bắt đầu từ cha con của Ngô Toàn Hựu và Ngô Giám Tuyền học từ Dương Lộ Thiền.
7. Thái cực quyền Tôn gia bắt đầu từ Tôn Lộc Đường (người Bắc Kinh) học từ Hác Vi Chân.
Tuy vậy, trong Thái cực quyền toàn tập liệt kê 5 nhà lớn nhất:
1. Trần thức Thái cực quyền tổng hợp cả 3 giá (Lão giá, Tân giá và Tiểu giá),
2. Dương thức Thái cực quyền,
3. Ngô thức Thái cực quyền,
4. Võ thức Thái cực quyền
5. Tôn thức Thái cực quyền.
Các chi phái Dương, Ngô, Võ và Tôn chỉ dạy một bài quyền và sau đó môn Thôi thủ (Tuishou). Riêng chi phái Trần có dạy thêm một bài thứ nhì bài Pháo trùy quyền, bổ túc cho bài thứ nhất.

Các hệ phái khác:
Bên cạnh 5 nhà nói trên, tại Trung Hoa (và cả Việt Nam) hiện còn lưu truyền nhiều hệ phái Thái cực quyền khác nhau, trong đó có nhiều hệ phái xuất xứ từ Thái cực quyền của dòng họ Trần, bao gồm:
1. Hòa gia Thái cực quyền (Hijia Taiji Quan) lập bởi Hòa Triệu Nguyên (HeZhaoyuan) (1810-1890), đệ tử của Trần Thanh Bình.
2. Lý gia Thái cực quyền (Lijia Taiji Quan) lập bởi Lý Thụy Đông (Li Ruidong), đệ tử đời thứ hai của Dương Lộ Thiền. Vào cuối thế kỷ thứ 19, môn này còn được gọi là Ngũ Tinh Thái Cực quyền (Wuxing Taiji quan) hay Ngũ Tinh Trùy (Wuxing Chui).
3. Lý gia Thái cực quyền (Lijia Taiji Quan) truyền bởi Lý Anh Ngang (Li Yingang) thế kỷ 20
4. Nhạc gia Thái cực quyền (Yuejia Taiji Quan) thành lập vào đầu thế kỷ thứ 20.
5. Phó gia Thái cực quyền (Fujia Taiji Quan) lập bởi Phó Chấn Tung (Fu Zhensong) (1881-1953)
6. Tam Hợp Nhất Thái cực quyền (Sanheyi Taiji Quan) lập bởi Trương Kính Chi (Zhang Jingshi), đệ tử đời thứ tư của Trần Thanh Bình.
7. Thiếu Lâm tổng hợp Thái cực quyền (Shaolin Zonghe Taiji Quan) từ Như Tỉnh (Ru Jing) vào thế kỷ thứ 19.
8. Thường gia Thái cực quyền (Channgjia Taiji Quan) lập bởi Thường Đông Thăng (Chang Dongshing) (1909-1986).
9. Triệu Bảo gia Thái cực quyền (Zhaobaojia Taiji Quan) lập bởi Trần Thanh Bình.
10. Trịnh gia Thái cực quyền (Zhengjia Taiji Quan) lập bởi Trịnh Mãn Thanh (Zheng Manqing) (1901-1975)
11. Trương gia Thái cực quyền (Zhangjia Taiji quan) truyền bởi Vạn Lai Thanh (Wan Laisheng) (1903-1992)
12. Võ Đang Thái cực quyền (Wudang Taiji Quan), còn được gọi là Do Long Phái (Youlong Pai) hay Long Hành Thái Cực quyền (Longxing Taiji Quan), mới được sáng tác, sau này trên tiêu chuẩn của Dương Gia Thái Cực quyền[3].
13. Triệu gia Thái cực chưởng (Zhaojia Taiji Zhang) do Triệu Trúc Khê (Zhao Zhuxi) (1898-1991) sáng tác vào thập niên 1950. Chương trình của môn này bao gồm bài Dương gia Thái cực quyền giản hóa 24 thức; Đơn vãn thôi thủ (Danwantuishou); Thái cực chưởng (Taijizhang); Thái cực kiếm (Taijijian); Thái cực đao (Taijidao)[3]. Ngoại trừ bài Dương gia Thái cực quyền giản hóa 24 thức, kỹ thuật của bộ môn thuộc Thái cực Đường Lang quyền (Taiji Tanglang quan) không dính dáng đến các lưu phái Thái cực Trường quyền nói trên.
14. Thái cực quyền-trường phái Trường sinh đạo (gọi tắt là Thái cực trường sinh đạo được cụ Song Tùng truyền từ  gia tộc đến các học viên tại các lớp học của Câu lạc bộ UNESCO Thái cực trường sinh đạo. Theo ý kiến của cụ Song Tùng “đây là bài Thái cực quyền kết hợp với luyện thiền từ Trung Quốc và Yoga Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta “Việt hóa””. Bài bao gồm 108 động tác, đồ hình và thủ pháp khá giống bài Dương gia Thái cực giản hóa 24 thức tuy có khác ở điểm giữ thân trung chính không nhấp nhô đầu.

Đặc điểm – tư tưởng:
Tên gọi Thái cực quyền xuất phát từ tư tưởng Thái cực trong Chu dịch và học thuyết Âm Dương: Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng (hai chân, hai tay), Tứ tượng sinh Bát quái (tám tiết đoạn của tay chân gập duỗi được), Bát quái biến 64 quẻ… “Thái” ở đây nghĩa là to lớn, “cực” nghĩa là điểm bắt đầu. Thái Cực Đồ nói rằng: “Vô cực mà thái cực”. Dùng lối thở bụng của Đạo gia, Thái cực quyền khiến người tập hô hấp thâm trường không bị rối loạn, sức mạnh gia tăng, hình thành một công phu đặc thù trong võ học. Các động tác của bài quyền uyển chuyển và mềm mại, trong nhu có cương, dung hợp với học thuyết kinh mạch âm dương. Thái cực quyền đã trở thành một phương pháp tập luyện trong ngoài tương ứng, hình thức và tâm ý kết hợp.
Tính nhân văn:
Nét chính yếu của Thái cực quyền là mô phỏng các hiện tượng tự nhiên. Nhiều chiêu thức trong bài hình ít nhiều mang đặc tính lãng mạn và nhân văn, ví dụ như: vân thủ (nghĩa là chiêu thức xoay tay như mây trắng xoay cuộn giữa trời xanh), bạch hạc lượng xí (con chim hạc vui múa), ngọc nữ xuyên thoa (thiếu nữ may áo), chuyển thân bài liên (lá sen lay động trước gió), như phong tự bế (như gió thổi làm cửa đóng), hải để châm (kim châm đáy bể) v.v. Thái cực quyền cũng là bộ môn ứng dụng nội công, rất thâm thúy và sâu sắc, với những tâm pháp mà các môn sinh phải thuộc nằm lòng để thi triển và ứng dụng hữu hiệu. Tuy chỉ có một bài quyền với các chiêu thức đơn giản nhưng người tập phải trải qua một tiến trình tập rất dài mới thấu hiểu lý pháp.
Nguyên tắc tập luyện:
Các nguyên tắc, yếu lĩnh tập luyện khai triển Thái cực quyền mỗi dòng phái có sự dị biệt ít nhiều, tuy nhiên thường có một vài nguyên tắc khá liên quán, thống nhất. Dưới đây là một số nguyên tắc của dòng Dương thức Thái cực quyền:
* Hư linh đỉnh kình: đầu cổ ngay thẳng, thần quán ở đỉnh
* Hàm hung bạt bối: ngực lõm, lưng phẳng để khí trầm đan điền
* Tùng yêu: chân tay theo sự vận động của eo, lấy eo làm chỗ dựa
* Phân hư thực: hư, thực rõ ràng.
* Trầm kiên trụy chẩu: vai lỏng chỏ buông
* Dụng ý bất dụng lực: lấy ý điều khiển động tác
* Thượng hạ tương tùy: trên dưới theo nhau
* Nội ngoại tương hợp: trong ngoài hợp nhau, tâm ý khí lực là một
* Tương liên bất đoạn: động tác liên tiếp không dừng, thao thao bất tuyệt, liên miên như kéo tơ.
* Động trung cầu tịnh: Trong động tìm cái tĩnh. Lấy tĩnh chế động.
Bài hình
Từ giai đoạn đầu với 7 bài quyền và các công phu bổ trợ, nhiều bài kiếm, thương, đao do Trần Vương Đình đưa vào dòng họ, cho tới các đời sau đã hợp nhất lại thành 2 bài quyền là “Đệ nhất lộ” và “Pháo chùy quyền”. Các lưu phái Thái cực quyền khác thuộc ngũ đại danh gia Thái cực (Trần, Dương, Ngô, Võ, Tôn), ngoại trừ Trần gia, về sau chỉ còn truyền lại 1 bài quyền. Từ thời điểm 1956, khi Dương gia Thái cực đã có bài 24 thức giản hóa, các dòng Trần gia, Võ gia…, bên cạnh bài gốc cũng đã đi theo xu hướng tinh giản các chiêu thức trùng lặp hoặc phức tạp, vốn không thuận tiện cho người già cả hay thể lực suy nhược, để hình thành thêm các bài rút gọn.
Các bài Thái cực kiếm, Thái cực côn, Thái cực phiến (quạt) v.v phần lớn do các võ phái đời sau nghiên cứu, xiển dương và sáng chế bổ túc cho võ phái của mình.
Chiêu thức trong bài Thái cực thường được chiết chiêu tập luyện song đối với kỹ pháp thôi thủ (đẩy tay), nhằm luyện cảm ứng lực để phản ứng với sự tấn công đối thủ trong thực chiến. Thôi thủ thường bao gồm Định bộ thôi thủ (thôi thủ với bộ pháp tĩnh tại) và Hoạt bộ thôi thủ (thôi thủ với bộ pháp linh hoạt).

………………………………………………………………………………………………………..

THÁI CỰC QUYỀN CA QUYẾT

Thái cực giả vô cực nhi sinh Thái cực từ vô cực sinh ra
động tĩnh chi cơ âm dương chi mẫu là cơ cấu của động và tĩnh, là xuất phát của âm và dương
Động chi tắc phân tĩnh chi tắc hợp Động vào thì chia ra, mà để yên thì hợp lại
Vô quá bất cập tùy khúc tựu thân Không đi quá không sát lại, tùy là co lại, tựu là duổi ra
Nhân cương ngã nhu vị chi tẩu Địch cương ta nhu thì gọi là nhượng
Ngã thuận nhân bội vị chi niêm Địch nhu ta cương thì gọi là dính
Động cấp tắc cấp ứng càng nhanh thì ta theo nhanh
Động hoãn tắc hoãn tùy Chậm thì ta chậm
Tuy biến hóa vạn đoan Biến hóa trăm vạn đường
Nhi lý vi nhất quán nhưng chỉ có một nguyên lý
Do trước thục nhi tiệm ngộ quán kình Từ thuần thục từ từ đi đến chỗ quen kình
Do quán kình nhi bệ cập thần minh Từ quen kình đi đến chỗ thần minh
Nhiên phi dụng lực chi cửu Nhưng nếu không bỏ công trau giồi lâu ngày
bất năng khoát nhiên quán thông yên thì không thể có ngày tự nhiên biết thấu
Hư lãnh đỉnh kình Cái hư dẫn thẳng lên đỉnh đầu
khí trầm đan điền khí chìm xuống đan điền
Bất thiên bất ỷ hốt ẩn hốt hiện Không nghiêng không dựa, khi ẩn khi hiện
Tả trọng tắc tả hư Bên trái nặng thì bên trái như không có gì
hữu trọng tắc hữu hư Bên phải nặng thì bên phải như không có
Ức chi tắc xưng cao Càng với lên càng thấy cao
phủ chi tắc xưng thâm càng chúi xuống càng thấy sâu
Tấn chi tắc dũ trường Càng xông tới càng thấy dài
thoái chi tắc dũ xúc càng lùi lại càng bị dồn ép
Nhất vũ bất năng gia Một cái lông chim cũng không thêm
thằng huy bất năng lạc Một con bọ chẳng thể đậu xuống
Nhân bất tri ngã, ngã độc tri nhân Người ta không biết mình, chỉ có mình biết người ta
Anh hùng sở hướng vô địch Anh hùng vô địch trước giờ
Cái giai do thử nhi cập dã là ở chỗ đó
Kỳ kỹ bàng môn thậm đa Bàng môn tả đạo có nhiều
tuy thế hữu khu biệt tuy khác nhau
khái bất ngoại hồ nhưng không ngoài quy luật
tráng khi nhược, mạn nhượng khoái nhĩ mạnh thắng yếu, nhanh thắng chậm
Hữu lực đả vô lực Có sức hơn không có sức
thủ mạn nhượng thủ khoái chậm tay nhượng nhanh tay
thị giai tiên thiên tự nhiên chi năng là do thiên nhiên như vậy
phi quan học lực nhi hữu vi dã không dính líu tới luyện tập
Sát tứ lượng bác thiên quân chi cú Hãy quan sát câu “tứ lượng bác thiên quân”
hiển phi lực thắng rõ ràng không phải dùng lực thắng
Quan mỗ mỗ năng ngự chúng chi hình Nhìn những người già chế ngự địch thủ đông người
khoái hà năng vi nhanh để làm gì
Lập như bình duy hoạt như xa luân Đứng như một cái cân, xoay như trục bánh xe
Thiên trầm tắc tùy Trầm xuống một bên thì chiều theo được
song trọng tắc đái nặng cả hai bên thì bị trì trệ
Mỗi kiến số niên thuần công Mỗi khi thấy có người luyện tập lâu năm
nhi bất năng vận hóa dã mà chưa biết vận dụng
Suất tự vị nhân chế bởi bị người ta chế ngự
Song trọng chi bệnh vị ngộ nhĩ đó là vì họ chưa hiểu ra cái bệnh “song trọng”
Dục trị thử bệnh tu tri âm dương Muốn biết bệnh chỗ nào, phải hiểu âm dương
Niêm tức thị tẩu Dính tức là theo
tẩu tức thị niêm theo tức là dính
Âm bất ly dương, dương bất ly âm Âm không rời dường, dương không rời âm
Âm dương tương tế thị vị quán kình Âm dương cùng hiệp điệu, mới gọi là quen “kình”
Quán kình hậu dũ luyện dũ tinh Quen kình rồi, càng luyện càng tinh xảo
Mặc nhận sủy ma Yên lặng suy nghĩ
tiệm chí tòng tâm sở dục rồi sẽ có lúc đi đến chỗ tùy ý mình mà làm
Bản thị xá kỷ tòng nhân Vốn là bỏ mình mà theo người ta
Đa ngộ xá cận cầu viễn Đa số ngộ nhận là bỏ gần để lấy cái xa
Sở vị sai chi hào ly liêu dĩ thiên lý Gọi là sai một ly đi một dặm
Học giả bất khả bất tường biện yên Học giả không thể không tường tận rõ ràng
Trường quyền giả Trường quyền
như trường giang đại hà có nghĩa là như con sông dài rộng lớn
thao thao bất tuyệt dã chảy thao thao bất tuyệt
Bằng, lý, tê, án, Đở, Kéo, Đụng, Đẩy
Thái, liệt, trửu, kháo, Bẻ, quặt, cùi chỏ, vai
Thử bát quái dã Đấy là bát quái
Tấn bộ, thoái bộ tiến, lùi
tả cố, hữu phân, trung định trái, phải, trung tâm
Thử ngũ hành dã Đấy là ngũ hành
Bằng lý tê án Đở, Kéo, Đụng, Đẩy
Tức càn khôn khảm ly là Càn Khôn Khảm Ly
tứ chính phương dã Bốn phương chính
Thái liệt trửu kháo Bẻ, quặt, cùi chỏ, vai
tức tốn chấn đoài cấn là Tốn Chấn Đoài Cấn
tứ tà giác dã bốn góc xiêng
Tấn thoái cố phân định Tiến lui trái phải giữa
tức kim mộc thủy hỏa thổ dã là Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
Hợp chi tắc vi thập tam thế dã Cộng lại là mười ba thế

…………………………………………………………………..

THÁI CỰC QUYỀN YẾU LÃNH (Nói về luyện thái cực)

Quyền thuật của Trung quốc, tuy có nhiều môn phái khác nhau, phải biết đều là những kỹ thuật có ngụ triết lý trong đó, từ xưa tới giờ, đã từng có kẻ đem tinh lực cả đời ra tập luyện, mà vẫn không được đến chỗ huyền diệu, kẻ học chỉ biết bỏ phí ra một ngày công phu thì sẽ được một ngày hiệu quả, ngày qua tháng lại, rồi sẽ có lúc tới nơị

Thái cự quyền, là trong nhu có ngụ cái cương, là nghệ thuật dấu kim trong bông gòn (miên lý tàng châm), về phương diện kỹ thuật, sinh lý hoặc lực học đều có nguyên lý tương đương. Do đó kẻmài cứu Thái cực quyền phải qua các giai đoạn, trình độ, tuy có lương sư chỉ dạy, bạn tốt chỉ nhau, cũng không phải thiếu, nhưng quan trọng nhất là tự mình đào luyện lấy theo thời gian, nếu không cả ngày ngồi đàm luận, suy nghĩ tháng năm, đến lúc giao thủ, chẳng có gì cả, rõ ràng là kẻ đứng ngoài cửa, chẳng có týcông phu gì. Cổ nhân nói là “chung tư vô ích, bất như học dã” (Khổng tử: suy nghĩ hoài cũng vô ích, không bằng học). Nếu được sớm tối không ngơi nghỉ, nóng lạnh không xê dịch, một khi có ý lập tức luyện quyền, vô luận lão ấu nam nữ, đến lúc thành tựu đều như nhaụ

Lúc sau này, những kẻ tập luyện Thái cực quyền, từ bắc tới nam, càng ngày càng đông, không khỏi mừng thầm dùm cho bước đường tương lai của vũ thuật. Tuy nhiên, trong những người ấy, không thiếu những người chuyên tâm khổ luyện, thành tâm trí chí học tập, tương lai sẽ đi đến mức độ không thể hạn lượng; song thường thường thì không khỏi rơi vào hai con đường: một là có thiên tài cụ bẩm, tuổi tác năng lực lại mạnh, học một hiểu ba, đốn ngộ xuất quần, tiếc thay hơi có tý thành tựu, giữa đường đã ngừng, chưa được hiểu đến nơi đến chốn. Hai là những kẻ mong được hiệu quả nhanh chóng, hốt lược cho xong, chưa xong một năm, quyền, kiếm, đao, thương đều học hết cả, tuy có thể y dạng hồ lô, nhưng thực tế chưa lãnh hội đến “tam muội” (chỉ nguyên lý), đến khi khảo sát phương hướng, động tác, trên dưới, ngoài trong, đều chưa được hợp độ, nếu như muốn cải chính, thì thức nào cũng phải đổi, với lại sáng đổi, chiều lại quên đi mất. Bơ”i vậy mới có câu: “Tập quyền thì dễ mà đổi thì khó” (Tập quyền dung dị cải quyền nan). Lý do có câu ấy cũng vì muốn mong thành cho nhanh mà rạ Những người ấy, đã sai lại dạy sai, ắt sẽ hư người khác, thật là một cái nguy cho tiền đồ vũ thuật.

Mới học Thái cực quyền, trước tiên là học quyền giá (chiêu thức). Gọi là quyền giá, tức là chiếu theo quyền phổ, thầy dạy từng chiêu một, người học tĩnh tâm im lặng suy nghĩ tìm tòi, theo đó mà làm. Lúc này người học phải chú ý trong ngoài và trên dưới; “Trong” laà nói đến “dùng ý, không dùng lực”; “dưới” là nói “khí trầm đan điền”; “thượng” là nói “hư lãnh đỉnh kình”; “ngoài” là nói chu thân nhẹ nhàng linh động, liên quán từ chân đến bắp chân đến eo lưng, chìm vai gập cùi chỏ. Mới học là chỉ có mấy câu đó, sáng tối tìm tòi, mà hiểu ra, mỗi chiêu mỗi thức phải cần tỷ mỷ quan trọng ở chính xác. Tập luyện thuần thục xong rồi mới đi qua chiêu mới, cho đến lúc học xong hết, như vậy thì mới không có chuyện cải chính, lâu ngày không đến việc phải thay đổi yếu quyết.

Lúc tập luyện vận hành, chu thân cốt tiết, phải để tung khai tự nhiên. Một là miệng và bụng không được nín hơi, hai là tứ chi eo lưng, không được dùng sức lực. Hai câu này, những kẻ học quyền thuật nội gia, ai cũng nói được, mà đến lúc cử động, chuyển thân, chân đá, hay xoay lưng, hơi thở dồn dập, thân thể lung lay, lỗi là do nín thở hoặc dùng sức lực nhĩ.

(1) Lúc luyện tập, đầu không được nghiêng hoặc chồm tới hoặc ngửa ra sau, “đỉnh đầu hệ” có nghĩa là như có cái gì treo đầu lên, kỵ nhất là thẳng cứng, do đó mà nói là “treo”. Ánh mắt tuy nhiên nhìn thẳng ra trước, nhưng có lúc phải tùy theo thân pháp mà chuyển động, thị tuyến tuy nhìn hư không, nhưng cũng là một trong những động tác biến hóa khẩn yếu, và cũng để bổ sung vào chỗ không đủ của thân pháp và thủ pháp. Miệng thì như mở mà không mở, như đóng mà không đóng, miệng thở ra, mủi hít vào, theo tự nhiên. Nếu dưới lưỡi có nước miếng thì tùy lúc mà nuốt đi, đừng nhổ bỏ

(2) Thân thể phải ngay thẳng mà không dựa vào, xương sống và xương cụt, phải một đường thẳng đứng mà không nghiêng, lúc gặp biến hóa khai (mở ra) và hợp (đóng lại) thì có những hoạt động “hàm hung bạt bội” (thóp ngực dãn lưng), “trầm kiên đọa trửu” (hạ vai chìm cùi chỏ), lúc mới học phải thật chú ý, nếu không lâu ngày sẽ khó mà sửa đổi, tất sẽ bị vụng chậm, công phu dù có thâm, khó mà đi đến chỗ dùng được hỷ

(3) Hai cánh tay xương cốt phải tung khai, vai hạ xuống, cùi chỏ không nên khúc, bàn tay phải hơi duỗi ra, ngón tay hơi cong, lấy ý vận cánh tay, lấy khí dẫn qua ngón tay, ngày tích tháng dồn , nội kình sẽ thông linh, huyền diệu rồi sẽ sinh ra thôi

(4) Hai chân phải phân biệt hư và thực, nhấc lên đặt xuống như mèo đi, trọng lượng đi qua bên trái, thì bên trái thực, mà chân phải thì gọi là hư; đi qua bên phải, thì bên phải thực, mà chân trái gọi là hự Gọi là hư, mà thực ra không phải là “không có gì”, thế như là đã xong mà còn dư lại ý có thể biến hóa co lại hoặc duỗi rạ Còn gọi là thực, chỉ có nghĩa là “xác thực” thôi, không phải là dùng kình quá cỡ, hoặc dùng sức quá mãnh liệt. Do đó mà chân cong lại tới thẳng đứng gọi là tiến, đi quá nữa thành ra quá kình, thân thể phải chồm tới, thành mất đi tư thế ngay thẳng

(5) Bàn chân phải phân rõ ràng đá mủi chân (quyền phổ có chiêu tả hữu phân cước) và đá bằng bàn chân, đá mủi thì phải chú ý mủi chân, đá bàn chân thì phải chú ý bàn chân, ý đi tới thì khí đi tới, khí tới thì kình sẽ tới, mà cốt tiết phải tung khai bình ổn mà đá rạ Lúc này rất dễ bị đá dùng sức, thân thể bẻ ngang dọc không vững vàng, đá ra cũng không có sức nhĩ

Thứ tự lúc học Thái cực quyền, trước tiên là học chiêu thức (đi quyền), như là Thái cực quyền, Thái cực trường quyền; sau đó là “đơn thủ thôi thủ” (đẩy một tay), rồi “nguyên địa thôi thủ” (đứng yên đẩy tay), “hoạt bộ thôi thủ” (đi qua lại đẩy tay), “đại lý” (kéo), “tán thủ” (hất ra); Sau đó là khí giới, như Thái cực kiếm, Thái cực đao, Thái cực thương (thập tam thương) v.v.

Thời gian tập luyện, mỗi sáng dậy tập hai lần, nếu sau đó rãnh, thì trước khi ngủ tập hai lần. Trong một ngày, nên luyệng bảy tám lần, ít nhất sáng một lần tối một lần. Tuy nhiên kỵ không nên tập sau khi uống rượu, ăn no

Địa điểm tập luyện, lấy sân trước hoặc sân sau, chỗ thoáng khí, nhiều ánh sáng là tốt nhất. Kỵ ánh sánh chiếu thẳng hoặc gió lớn hoặc chỗ tối ẩm ướt, bơ”i vì thân thể một khi vận động, hô hấp sẽ sâu và dài, do đó mà gió lớn hoặc hơi ẩm mà chạy vào sâu trong bụng sẽ có hại cho phủ tạng, dễ đi đến chỗ bị bệnh. Quần áo lúc tập luyện, nên rộng rãi, ngắn, giày thì mủi rộng. Lúc luyện kình nếu ra mồ hôi, phải kỵ không được cởi áo ở trần, hoặc dùng nước lạnh chùi, nếu không sẽ không chừng bị bệnh

DƯƠNG TRỪNG PHỦ truyền khẩu, TRƯƠNG  HỒNG QÙY chép lại

……………………………………………………………………..

THÁI CỰC QUYỀN THẬP YẾU (10 yếu quyết trong Thái Cực)

(1) Hư lãnh đĩnh kình: Đĩnh kình, có nghĩa là đầu để cho ngay thẳng, thần dẫn lên trên đầu, không được dùng sức, dùng sức cổ sẽ bị cứng, khí huyết sẽ không được lưu thông, phải có ý hờ và linh động. Không có hư lãnh đĩnh kình, thì tinh thần không thể sôi động lên

(2) Hàm hung bạt bội: Hàm hung, có nghĩa là ngực hơi thóp vào trong, để cho khí đi xuống đan điền. Ngực kỵ ưỡn ra, ưỡn ra thì khí sẽ chạy lên ngực, trên nặng dưới nhẹ, bàn chân sẽ dễ bị loạng choạng. Còn bạt bội, có nghĩa là khí dính vào sau lưng, biết hàm hung tức là biết bạt bội, biết bạt bột thì sẽ biết lực là do ở xương sống phát ra, vô địch là ở chỗ đó

(3) Tung yêu: Eo lưng là chủ tể của một thân, thả lỏng eo lưng được thì sau đó hai chân mới có đủ sức, hạ bàn ổn cố. Biến hóa hư thực đều do ở eo lưng chuyển động, do đó mà nói: “Mệnh ý nguyên đầu tại yêu khích” (Cái ý chí mệnh lệnh là ở chỗ cái eo lưng), nếu mà không đủ sức là tìm ở eo lưng và chân

(4) Phân hư thực: Thái cực quyền lấy hư thực làm ý nghĩa số một, nếu toàn thân nằm ở bên chân phải, thì chân phải là thực, chân trái là hư; toàn thân mà nằm ở chân trái, thì chân trái là thực, chân phải là hự Hư thực mà phân ra được, thì sau đó mới chuyển động linh hoạt, mà không tốn tý sức lực. Nếu không phân ra được, thì đi đứng nặng nề, thân đứng không vững, mà dễ bị người lay động

(5) Trầm kiên đọa trửu: Trầm kiên, có nghĩa là vai tung lỏng và hạ xuống, nếu không làm được, hai vai nhô lên, tất nhiên khí sẽ tùy theo đó mà đi lên, toàn thân sẽ không lấy được sức nhĩ. Đọa trửu, có nghĩa là cùi chỏ hạ chìm xuống, cùi chỏ mà đưa lên, thì vai sẽ không hạ xuống được, quăng người ra không xa, sẽ đi gần với ngoại gia dùng cường kình nhĩ

(6) Dụng ý bất dụng lực: Thái cực quyền luận có nói: “thử toàn thị dụng ý bất dụng lực” (cái này là chỉ dùng ý không dùng sức). Luyện Thái cực quyền. toàn thân tung khai, không để có một tý nào sức , sợ bị đình trệ cân cốt huyết mạch, mà bó thúc thân thể; sau đó rồi biến hóa mới linh hoạt, tròn và lưu chuyển như ý. Nếu mà nghi ngờ là nếu không dùng sức thì làm sao mà có sức mạnh ? Bởi rằng thân thể người ta có kinh lộ, như là đất có mạch nước, mạch mà không tắc thì nước chảy, kinh lộ mà không bị bế tắc thì khí sẽ thông. Nếu như cả thân thể đầy sức làm tắc kinh lộ, khí huyết sẽ bị đình trệ, chuyển động không linh hoạt, kéo một cái là cả người bị lay chuyển nhĩ. Còn nếu không dùng sức mà dùng ý, chỗ nào ý tới thì khí sẽ lập tức tới, như vậy, khí huyết lưu hành, ngày ngày lưu chuyển, chu lưu toàn thân, không lúc nào đình trệ; Luyện như vậy lâu ngày, sẽ được nội kình chân chính, tức là như trong Thái cực quyền luận nói: “Cực chí nhu, nhiên hậu cực chí cương”.Người tập luyện công phu Thái cực quyền, cánh tay như bông gòn bọc thiết, phân lượng rất trầm; người luyện quyền ngoại gia, dùng sức là thấy có sức, không dùng sức thì thấy nhẹ hời, có thể thấy rằng sức là kình lực phía ngoài nhĩ, không dùng ý mà dùng sức, rất dễ bị lay động, không đủ hay nhĩ

(7) Thượng hạ tương tùy: Thượng hạ tương tùy, tức là như Thái cực quyền luận nói là: “Kỳ căn tại cước, phát vu thoái, chủ tể vu yêu, hình vu thủ chỉ, do cước nhi thoái nhi yêu, tổng tu hoàn chỉnh nhất khí” (Căn là ở chân, phát ra bắp chân, chủ tể là eo lưng, hình tượng ở bàn tay ngón tay, từ chân mà tới bắp chân, rồi eo lưng, phải chung là thành một hơi). Bàn tay động, eo lưng động, chân động, nhãn thần tùy theo đó mà động, như vậy thì mới gọi là thượng hạ tương tùy, có một cái nào không động tức là tán loạn rồi

(8) Nội ngoại tương hợp: Thái cực quyền luyện ở chỗ “thần”, cho nên nói rằng: “thần vi chủ soái, thân vi khu sử” (thần là chủ soái, thân là kẻ bị sai sử). Tinh thần mà đề lên được, tự nhiên cử động sẽ nhẹ nhàng linh hoạt. Tư thế không đi ra ngoài hư thực, khai hợp. Khai, có nghĩa là chân tay khai, tâm ý cũng theo đó mà khai theọ Hợp, có nghĩa là không những chân tay hợp mà tâm ý cũng theo đó mà hợp, được trong ngoài mà thành một khí, thì hồn nhiên không bị ngăn trở nhĩ

(9) Tương liên bất đoạn: Quyền thuật ngoại gia, kình là từ ở sức có sau này, do đó mà có sinh có dứt, có tục có đoạn, sức cũ mà hết, sức mới chưa sinh, lúc ấy rất dễ bị người thừa cợ Thái cực quyền dùng ý không dùng lực, từ đầu tới cuối, miên miên không ngừng, hết một vòng lại trở về đầu, tuần hoàn vô cùng, quyền luận nói là: “như trường ggiang đai hà, thao thao bất tuyệt”, lại nói: “vận kình như trừu ty”, đều nói đến một hơi liên quán

(10) Động trung cầu tĩnh: Quyền thuật ngoại gia, lấy nhảy nhót làm hay, dùng hết khí lực, do đó mà luyện quyền xong, không ai là không thở gấp. Thái cực quyền lấy tĩnh chế ngự động, tuy động mà cũng như tĩnh, do đó đi quyền càng chậm càng tốt. Chậm thì hô hấp sâu và dài, khí trầm đan điền, không bị khổ vì huyết mạch khẩn trương. Kẻ học phải để ý tìm tòi, như vậy thì mới hiểu được

DƯƠNG TRỪNG PHỦ truyền khẩu, TRẦN VI MINH chép lại

………………………………………………………….

TRẦN THỨC THÁI CỰC QUYỀN LUẬN (8 Đặc diểm của Thái Cực Trần Thức)

Thái cực quyền là một loại quyền thuật ưu tú được sáng tạo và phát triển qua một thời gian dài trong các sinh hoạt thực tiễn. Qua hơn mấy trăm năm không ngừng được trau giồi trong các kinh nghiệm thực tiễn, người ta mới từ từ nhận ra được các quan hệ bên trong và các quy luật vận động. Quyền phổ Thái chực quyền lưu lại từ tiền nhân, tức là tổng kết của những kinh nghiệm thực tiễn nàỵ Quyền phổ là đường dây giúp cho chúng ta mài cứu Thái cực quyền, học tập càng ngày càng tiến triển hơn. Tuy nhiên bởi vì tiền nhân bị những hạn chế của thời đại, trong các lý luận cũng có chỗ không tới, do đó chúng ta cần tìm trong các thực tiễn, kết hợp những nhận thức mới tăng bồi vào kiểm nghiệm, trữ bỏ những điều không chính xác, tiếp thu những gì tinh hoa, tiến một bước nắm vững những lý luận chính xác, làm cho môn quyền thuật này càng giúp cho người ta được bảo trì sức khỏe tốt hơn. Do đó, lúc học Thái Cực quyền, mới bắt đầu là phải ráng giữ những lý luận chính xác trong quyền phổ, và hiểu rõ chỗ tinh yếu trong đó, rõ ràng mạch lạc, xong rồi từ những cơ bản đó mà phát triển ra, từ từ đi vào sâu hơn.

Tại quá trình của mỗi động tác trong Thái cực quyền, từ đầu đến cuối, đều thấm nhuần “âm dương” và “hư thực”. Lúc biểu hiện ra trong lúc vận động, mỗi chiêu thức đều có “khai” (mở ra) và “hợp” (Đóng lại), “viên” (tròn) và “phương” (vuông), “quyển” (cuốn lại) và “phóng” (thả ra), “hư” và “thực”, “khinh” (nhẹ) và “trầm” (chìm), “cương” và “nhu”, “mạn” (chậm) và “khoái” (nhanh). Dương thức Thái cực quyền thi triển tốc độ bằng nhau, không có nhanh chậm như Trần thức; Trong các động tác có những hình thức khác nhau và đối lập thống nhất như tả hữu, thượng hạ, lý ngoại (trong ngoài), đại tiểu, và tiến thoái, đấy là nguyên tắc căn bản của Thái cực quyền.

Không những Thái cực quyền hình thức bề ngoài khác biệt, mà trong nội công cũng có chỗ yêu cầu đặc thù riêng. Lúc luyện Thái cực quyền, trước tiên cần dùng ý không được dùng sức mạnh, do đó bên trong Thái cực quyền là vận động ý khí, bên ngoài là vận động thần khí sôi động lên, cũng như nói là cần luyện ý, mà cũng cần luyện khí. Cái tính chất vận động ý khí này là chỗ tinh hoa của Thái cực quyền, và cũng là đặc điểm thống lãnh các đặc điểm khác. Ngoài ra, lúc luyện quyền, trong khi thân thể dãn dài cùng biến hoán thuận nghịch như kéo tơ, các động tác cần phải có biểu hiện được có thể nhu có thể cương và có nhiều tính chất đàn hồị Nói về động tác, yêu cầu “nhất động toàn động” (một cái động là tất cả đều động), “tiết tiết quán quán” (liên lạc từ đầu này qua đầu nọ), “tương liên bất đoạn” (dính nhau không dừng), “nhất khí kha thành” (một hơi là xong). Nói về tốc độ, yêu cầu có nhanh có chậm, nhanh chậm chen vào nhaụ Nói về lực lượng, yêu cầu có nhu có cương, cương nhu bổ nhaụ Nói về thân đứng và động tác, yêu cầu ngay thẳng không nghiêng, trong cái hư có thái thực, trong cái thực có cái hư, trong cái “khai” ngụ cái “hợp” và trong cái “hợp” ngụ cái “khai”. Những điều kiện trên đã đầy đủ, sau đó Thái cực quyền mới được phát huy đầy đủ các tác dụng đặc thù của nó. Trên phương diện thể dục, có thể tăng cường không những các khí quan vận động bên ngoài mà còn là nội tạng bên trong, còn có thể tăng cường năng lực chỉ huy ý thức, cũng chính là năng lực “dụng ý bất dụng lực”, có thể chỉ huy khí chu lưu toàn thân thuận lợị Như vậy, vừa luyện được khí, mà cũNg luyện được ý, ý khí hổ tương tăng trưởng cường tráng, thân thể tự nhiên cường tráng. Đồng dạng, trên phương diện quyền thuật cũng có tác dụng riêng: có thể lấy “khinh” chế ngự “trọng”, lấy “mạn” chế ngự “khoái”, khắc chế tự nhiên, nắm giữ tự nhiên, lúc làm động tác tự nhiên “nhất động toàn động”, “chu thân nhất gia” (toàn thân một nhà), đạt đến công phu quen kình “tri kỷ tri bỉ” và “tri cơ tri thế” (biết thời, biết thế).

Lý luận của Trần thức Thái cực quyền cùng các chi phái Thái cực quyền khác có chỗ giống, cũng có chỗ khác. Hiện giờ xin đem các đặc điểm của Trần thức Thái cực quyền giảng giải như sau:

Đặc điểm thứ nhất:

(Ý khí vận động)

(1)Dĩ tâm hành khí, vụ lệnh trầm trước, nãi năng thu liễm nhập cốt;
(Lấy ý dẫn khí, cốt sao cho trầm, như vậy mới thu nhập được vào trong xương)

(2)Dĩ khí vận thân, vụ lệnh thuận toại, nãi năng tiện lợi tòng tâm;
(Lấy khí vận trong thân thể, cốt sao cho điều thuận, như vậy mới được tiện lợi như ý)

(3)Tâm vi lệnh, khí vi kỳ, khí dĩ trực dưỡng nhi vô hại;
(Ý ra lệnh, khí phất theo, khí sẽ được nuôi dưỡng chính đại mà không có hại)

(4)Toàn thân ý tại thần, bất tại khí, tại khí tắc đái;
(Toàn thân ý là ở thần, không phải ở khí, ở khí là bị trì trệ)

Đặc điểm thứ hai:

(Đàn tính vận động)

(1)Hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền;
(Đỉnh kình dẫn hờ lên thẳng, khí trầm xuống đan điền)

(2)Hàm hung bạt bội, trầm kiên đọa trửu;
(Ngực thu vào, lưng dãn ra, vai trầm xuống, cùi chỏ chìm)

(3)Tung yêu viên đáng, khai khóa khuất tất;
(Thả lỏng eo lưng, tròn ?, khai hông, khuỷu đầu gối)

(4)Thần tụ khí kiểm, thân thủ phóng trường;
(Thần ngưng tụ, khí thu kiểm, thân và tay chân thả dài ra)

Đặc điểm thứ ba:

(Thuận toại triền ty-kéo tơ mà loa tuyền-xoáy vòng vận động)

(1)Vận kình như trừu ty;
(Vận kình như rút tơ)

(2)Vận kình như triền ty;
(Vận kình như kéo tơ)

(3)Nhiệm quân khai triển dử thu kiểm, thiên vạn bất khả ly thái cực;
(Bạn có khai triển hay thu hợp lại, ngàn vạn lần không được ly khai thái cực)

(4)Diệu thủ nhất vận nhất thái cực, tích tượng hóa hoàn quy ô hữu;
(Tay diệu thủ vận một lần là một thái cực, tung tích hóa xong là không còn gì nữa cả)

Đặc điểm thứ tư:

Lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy mà vận động

(1)Ý khí tu hoán đắc linh, nãi hữu viên hoạt chi thú, sở vị biến chuyển hư thực tu lưu ý dã;
(Ý khí phải đổi cho linh hoạt, mới có cái thú tròn trịa hoạt bát, tức là biến chuyển phải có hư và thực, nhớ lưu ý)

(2)Hư thực nghi phân thanh sở, nhất xử hữu nhất xử hư thực, xử xử tổng hữu thử nhất hư nhất thực;
(Hư và thực phải phân biệt cho rõ ràng, mỗi chỗ có một hư và một thực của chỗ đó, chỗ nào cũng chắc chắn có một hư và một thực)

(3)Lập thân tuy trung chính an thư, chi đáng bát diện; thượng hạ tương tùy nhân nan xâm;
(Thân thể phải giữ cho ngay thẳng an nhàn và thư thả, đở hết cả tám phía; trên dưới đi với nhau kẻ ngoài không xâm phạm vào được)

(4)Vĩ lư chính trung thần quán đỉnh; thượng hạ nhất điều tuyến
(Xương cụt ở dưới thẳng đứng, thần đi thẳng lên trên; trên dưới một đường thẳng)

Đặc điểm thứ năm:

(Yêu tích đái đầu-eo lưng xương sống làm đầu)

(1)Yêu tích vi đệ nhất chủ tể, nhất động vô hữu bất động;
(Eo và xương sống là chủ tể số một, cái gì động là hai thứ đó đều động)

(2)Chu thân tiết tiết quán quán, vô sử ty hào gián đọan;
(Chu thân liên quán với nhau, không được để bị gián đọan)

(3)Dục yêu chu thân nhất gia, tiên yêu chu thân vô sở khuyết sủng;
(Muốn chu thân là một nhà, trước tiên chu thân phải không có chỗ thiếu hoặc lõm)

(4)Hành khí như cửu khúc cầu, vô vi bất đáo;
(Hành khí như trái cầu chín khúc, không có chỗ nhỏ nào là không tới)

Đặc điểm thứ sáu:

(Thao thao bất tuyệt)

(1)Vãn g phục tu hữu chiết điệp, tấn thoái tu hữu chuyển hoán;
(Qua lại phải có gập và lấn tới, tiến và lui phải có chuyển hoán)

(2)Thu tức thị phóng, phóng tức thị thu;
(Thu lại tức là phóng ra, mà phóng ra cũng là thu lại)

(3)Kình đoạn ý bất đoạn, ý đoạn thần khả tiếp;
(Kình bị cắt ngang, ý không bị cắt, ý bị cắt, thần có thể tiếp nối)

(4)Như trường giang đại hà, thao thao bất tuyệt, nhất khí kha thành;
(Như sông dài biển rộng thao thao bất tuyệt, một hơi là thành)

Đặc điểm thứ bảy:

(Cương nhu tương tế mà vận động)

(1)Vận kình như bách luyện cương, hà kiên bất tồi, cực nhu nhuyễn, nhiên hậu cực kiên cường;
(Vận kình như thép luyện trăm lần, kiên cường nào mà không bị phá, cực kỳ nhu nhuyễn, xong rồi mới cực kỳ kiên cường được)

(2)Ngoại tháo nhu nhuyễn, nội hàm kiên cường, thường cầu nhu nhuyễn chi vu ngoại, cửu chi tự khả đắc nội chi kiên cường; phi hữu tâm chi kiên cường, thực hữu tâm chi nhu nhuyễn dã;
(Bên ngoài tập nhu nhuyễn, bên trong hàm kiên cường, lúc nào cũng là nhu nhuyễn phía ngoài, lâu ngày rồi bên trong tự nhiên được kiên cường; không phải có ý kiên cường, mà thực có ý nhu nhuyễn thôi)

(3)Thái cực quyền quyết bất khả thất chi miên nhuyễn. Chu thân vãng phục, dĩ tinh thần ý khí vi bản, dụng cửu tự nhiên quán thông yên;
(Thái cực quyền không được bỏ mất cái nhu nhuyễn, chu thân qua lại, lấy tinh thần ý khí làm căn bản, lâu ngày tự nhiên mà hiểu ra thôi)

(4)Vận kình chi công phu, tiên hóa ngạnh vi nhu, nhiên hậu luyện nhu thành cương. Cập kỳ chí dã, diệc nhu diệc cương. Cương nhu đắc trung, phương kiến âm dương. Cố thử quyền bất khả dĩ cương danh, diệc bất khả dĩ nhu danh, trực dĩ thái cực chi vô danh danh chi;
(Công phu vận kình là: trước tiên bỏ ngạnh mà lấy nhu, sau đó rồi luyện nhu để thành cương. Đến lúc đó, vừa nhu vừa cương. Cương nhu cùng ở trong, mới biết âm và dương. Do đó quyền thuật này không thể gọi là cương, mà cũng không thể gọi là nhu, đành lấy tên “thái cực” mà đặt cho nó)

Đặc điểm thứ tám:

(Khoái mạn tương gián mà vận động)

(1)Động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy;
(Động mà nhanh thì ứng biến nhanh, chậm lại thì tùy theo mà chậm lại)

(2)Bỉ bất động, kỷ bất động; bỉ vi động, kỷ tiên động;
(Bên kia không động, mình cũng không động; bên kia hơi động, mình đã động trước)

(3)Sơ học nghi mạn, mạn bất khả si ngốc; tập nhi hậu khoái, khoái bất khả thác loạn;
(Mới học nên chậm, chậm nhưng không được si ngốc; tập rồi chuyển qua nhanh, nhanh mà không được loạn xạ sai lầm)

(4)Hình kháng ngũ nhạc, thế áp tam phong, do từ nhập tật, do thiển nhập thâm;
(Trông hình có thể kháng cự với ngũ nhạc, xem thế có thể đè bẹp ba núi, từ chậm đến nhanh, từ thô thiển đến cao thâm)

Thái cực quyền
5 (100%) 1 vote

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN